Thảo Cầm Viên Sài Gòn được đánh giá là một trong những lá phổi xanh lớn nhất thành phố, với hệ động thực vật phong phú, đa dạng và được chăm sóc một cách gần gũi nhất với môi trường tự nhiên. Vì vậy, bên cạnh chức năng công viên giải trí, Thảo Cầm Viên Sài Gòn còn là nơi thích hợp cho các chương trình giáo dục và nghiên cứu trên diện rộng, để phục vụ cho mục tiêu gìn giữ và bảo vệ môi trường, cũng như bảo tồn các loại động thực vật quý hiếm.

Là một khu bảo tồn thiên nhiên giữa lòng thành phố, Thảo Cầm Viên Sài Gòn từ lâu đã được xem như một bảo tàng sống sinh động. Có rất nhiều công trình nghiên cứu sâu rộng về thiên nhiên, môi trường, hệ động thực vật… đã được thực hiện tại đây. Bên cạnh những công trình nghiên cứu do Thảo Cầm Viên Sài Gòn tự đầu tư và thực hiện, vườn thú lâu đời này còn được các đối tác chọn làm môi trường tiêu biểu để thực hiện những nghiên cứu chuyên sâu và mang tầm vóc quốc tế.

Các công trình nghiên cứu nổi bật tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn:

  1. Bổ sung mẫu và thực hiện tập tiêu bản thực vật:

Là một khu bảo tồn thiên nhiên giữa lòng thành phố, TCVSG từ lâu đã được xem như một bảo tàng sống sinh động. Để lưu trữ các thành quả của mình, Thảo Cầm Viên Sài Gòn đã xây dựng phòng Tiêu bản thực vật, với mục đích lưu giữ các mẫu quả thực vật đã và đang được chăm sóc tại đây. Công trình bổ sung mẫu và thực hiện tập tiêu bản thực vật thu được tất cả 400 mẫu thuộc 100 loài dây leo và cây thân gỗ theo các chỉ tiêu: 40% cây đẹp làm cảnh; 26% cây có giá trị trong công nghiệp; 46% cây cho gỗ tốt; 71% cây làm thuốc; 20% cây có tên trong Sách đỏ; 1% cây đặc hữu của Việt Nam. 100 mẫu đẹp nhất được chọn làm tiêu bản và được trưng bày để phục vụ khách tham quan. Hiện tại, Phòng Tiêu bản mở cửa phục vụ khách vào các ngày cuối tuần, ngày lễ và Tết.

Trong thời gian sắp tới, Thảo Cầm Viên Sài Gòn sẽ xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý mẫu tiêu bản thực vật trên máy tính, phục vụ quản lý các mẫu hiện tại và cập nhật về sau.

  1. Đánh giá hành vi của vượn má vàng:

Công trình nghiên cứu “Đánh giá việc làm phong phú tập tính Vượn má vàng (Nomascus gabriellae) tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn” được thực hiện từ tháng 12-2006 đến tháng 03-2008. Phương pháp Altmann (1974) được sử dụng để thu thập các số liệu về tập tính của vượn sống trên ba đảo, trước và sau khi làm phong phú tập tính.

Kết quả cho thấy kỹ thuật làm phong phú nơi nuôi và làm phong phú tập tính tìm thức ăn là phù hợp với tập tính và sinh thái của loài. Kết quả so sánh thống kê cho thấy thời gian hoạt động, tìm thức ăn của vượn đều tăng so với trước khi làm phong phú tập tính. Thức ăn nuôi vượn tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn gồm 14 loại, trong đó thực vật – chủ yếu là các loại trái cây – chiếm 96,24%, động vật chỉ chiếm 3,76%. Các loại thức ăn ưa thích của vượn nuôi gồm: chuối (27,64%), nho (8,26%), cam (8,14%), khoai lang (8,11%), cà chua (7,94%), táo (7,85%). Khối lượng thức ăn cần cho vượn trưởng thành khoảng 1650 gram/ngày.

Kết luận của công trình nghiên cứu cho thấy tính hiệu quả của việc làm phong phú tập tính vượn nuôi tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn, góp phần đáp ứng nhu cầu tập tính tự nhiên của loài.

  1. Ảnh hưởng của du khách lên tập tính của Hổ Đông Dương trong điều kiện nuôi tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn:

Nghiên cứu này được thực hiện tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn trong năm 2014, nhằm phân tích sự tương quan giữa số lượng du khách và tập tính hổ, cũng như sự tác động trở lại của hổ đối với du khách. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp góp phần vào việc chăm sóc và nuôi dưỡng, đánh giá hiệu quả của việc bảo tồn loài, giúp cho việc giáo dục trong vườn thú. Phương pháp Altmann (1974) đã được sử dụng để thu thập các số liệu về tập tính. Mỗi quan sát là 01 phút, cuối mỗi quan sát (kết thúc bằng tiếng bíp của đồng hồ) ghi nhận hoạt động của Hổ (ví dụ như ăn, di chuyển,…), đồng thời ghi nhận mật độ du khách tại chuồng.

  1. Các công trình nghiên cứu khác được thực hiện tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn:

Báo cáo SEAZA:

  • Chăm sóc nuôi dưỡng Báo lửa (2005)
  • Nghiên cứu về kí sinh trùng đường tiêu hóa trên hươu cao cổ và cách phòng trị (2012)
  • Nuôi bộ voọc vá chân nâu (2013)
  • Nuôi bộ hổ Đông Dương (2014)

Báo cáo khoa học:

  • Nuôi dưỡng nhân giống Kỳ nhông xanh (2013)

Các báo cáo khoa học cấp Sở

  • Khảo sát các chỉ số sinh học của máu và mật ở hai loài gấu Việt Nam trong điều kiện nuôi dưỡng bình thường và nghiên cứu các biến đổi những chỉ số này ở gấu lấy mật với chu kỳ 15 ngày nhằm đánh giá chất lượng mật lấy và các ảnh hưởng lên sinh lý gấu lấy mật (1993)
  • Bước đầu nghiên cứu phương pháp chăm sóc nuôi dưỡng nhân giống một số loài chim trĩ Việt Nam quý hiếm nuôi tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn (1997)
  • Nghiên cứu các đặc tính sinh học và sinh lý của vượn má vàng trong điều kiện nuôi nhốt tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn và vùng phụ cận (1999)
  • Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của cầy vằn và cầy mực nuôi (1999)